skip to Main Content
Menu

Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Căn cứ pháp lí: Điều 38, 39, 40, 41, 42 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

1.Thời điểm chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân:

Trong thời kỳ hôn nhân, tại bất kì thời điểm nào, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, không phải bất cứ trường hợp nào thỏa thuận chia tài sản trong thời kì hôn nhân cũng có hiệu lực, có những trường hợp thỏa thuận chia tài sản trong thời kì hôn nhân vô hiệu. Đó là những trường hợp sau:

–  Ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình; quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;

–  Nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ sau đây:

+  Nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng;

+  Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại;

+  Nghĩa vụ thanh toán khi bị Tòa án tuyên bố phá sản;

+  Nghĩa vụ trả nợ cho cá nhân, tổ chức;

+  Nghĩa vụ nộp thuế hoặc nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước;

+  Nghĩa vụ khác về tài sản theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Bộ luật dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân theo nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn.

2.Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân:

Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung của vợ chồng là thời điểm do vợ chồng thỏa thuận và được ghi trong văn bản; nếu trong văn bản không xác định thời điểm có hiệu lực thì thời điểm có hiệu lực được tính từ ngày lập văn bản.

Trong trường hợp tài sản được chia mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì việc chia tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực từ thời điểm việc thỏa thuận tuân thủ hình thức mà pháp luật quy định.

Trong trường hợp Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng thì việc chia tài sản chung có hiệu lực kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Quyền, nghĩa vụ về tài sản giữa vợ, chồng với người thứ ba phát sinh trước thời điểm việc chia tài sản chung có hiệu lực vẫn có giá trị pháp lý, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

  1. Hậu quả của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân:

Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác. Phần tài sản còn lại không chia vẫn là